Thứ Bảy, 9 tháng 11, 2019

Kết hợp liệu pháp tâm lý điều trị trầm cảm ở thanh thiếu niên

Trong khi chán nản, trẻ thơ và thanh thiếu niên có xu hướng tụt hậu xa về mặt học thuật và mất đi các mối quan hệ bạn bè quan trọng. Như ở người lớn duyên cớ trầm cảm ở trẻ mỏ và thanh thiếu niên không được rõ; Nó được cho là kết quả từ các nhân tố di truyền và những găng tay về môi trường, áp lực học tập và những thiếu thốn, mất mát trong cuộc sống.

Các diễn tả căn bản

Dấu hiệu nhận biết của chứng rối loạn trầm cảm ở con trẻ và thanh thiếu niên na ná như ở người lớn nhưng có can hệ đến những mối quan tâm điển hình của trẻ, chẳng hạn như học tập và vui chơi. trẻ em có thể không giảng giải được cảm xúc bên trong hoặc tâm trạng. Trầm cảm nên được xem xét khi những đứa trẻ hoạt động kém đi so với trước đó, không hòa nhập cộng đồng, rút khỏi từng lớp, hoặc có hành vi bất hợp pháp.

Ở một số trẻ có rối loạn trầm cảm, tâm trạng nổi trội là khó chịu như là cáu gắt bực bội, kíchthích, khai hấn hơn là nỗi buồn (một sự dị biệt quan yếu giữa tuổi thơ và người lớn). Sự khó chịu liên quan đến trầm cảm ở con nít có thể biểu thị như là hành vi hiếu chiến và bất hiệp tác...

Ở trẻ khuyết tật trí óc, chứng rối loạn tâm cảnh trầm cảm hoặc rối loạn tâm trạng khác có thể trình diễn.# như các triệu chứng của các bệnh thân thể và rối loạn hành vi.

Lứa tuổi thanh thiếu niên dễ mắc các rối loạn trầm cảm

Lứa tuổi thanh thiếu niên dễ mắc các rối loạn trầm cảm

Các rối loạn trầm cảm ở trẻ em và thanh thiếu niên

Các rối loạn trầm cảm ở trẻ con và thanh thiếu niên bao gồm: rối loạn trầm cảm hỗn hợp; rối loạn trầm cảm cốt; rối loạn khí sắc.

Rối loạn tâm trạng hỗn tạp: Rối loạn tâm cảnh là rối loạn liên hệ đến sự khó chịu liên tục và các thời đoạn ngay của hành vi đó là rất khó kiểm soát, với sự khởi đầu ở tuổi 6-10. Nhiều trẻ nít cũng có những rối loạn khác, đặc biệt là chống đối, phản đối, hiếu động thái quá, tăng động giảm để ý, hoặc rối loạn lo lắng. Các biểu hiện bao gồm các cơn kích thích thường xuyên nghiêm trọng (tỉ dụ như giận dữ hoặc gây tổn thương đối với những người xung quanh...) có tần suất cao hơn 3 lần/tuần; sự bùng nổ không ăn nhập với tình cảnh; thể cáu kỉnh, tức giận hiện diện hằng ngày.

Rối loạn trầm cảm đốn là một trầm cảm kéo dài hơn 2 tuần. Rối loạn trầm cảm cốt lần trước hết có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng phổ biến hơn là sau tuổi dậy thì với một số biểu thị: cảm thấy buồn hoặc người khác quan sát thấy nỗi buồn (thí dụ như nước mắt) hoặc khó chịu; mất quan hoài hoặc thích trong hầu hết các hoạt động (thường được bộc lộ như là nản); giảm cân (không tăng cân như dự định); giảm hoặc tăng cảm giác thèm ăn; mất ngủ hoặc chứng đau nửa đầu; sự khích động hoặc chậm phát triển tâm thần; mệt mỏi hoặc mất năng lượng; giảm khả năng nghĩ suy, tập kết và chọn lọc; những suy nghĩ liên tục về cái chết (không chỉ sợ chết) hoặc ý tưởng hay kế hoạch trầm mình; cảm giác vô bổ (tức là cảm thấy bị khước từ và không được xót thương)...

Nguy cơ tái phát cao ở những trẻ có tuổi trầm cảm nặng, có nhiều tuổi trầm cảm.

Rối loạn thần sắc: Chứng ù tai là dạng trầm cảm hoặc tức giận dằng dai kéo dài trong thời gian dài trong đó có một số diễn đạt như: chán ăn hoặc ăn quá nhiều; mất ngủ hoặc chứng đau nửa đầu; giảm năng lượng hoặc mệt mỏi; kém tụ hội; cảm giác tuyệt vọng; dễ bị lạm dụng... So với các rối loạn trầm cảm đốn, các triệu chứng có thể ít hơn. thời kì kéo dài nhàng nhàng 5 năm. Một thời đoạn trầm cảm lớn có thể xảy ra trước khi khởi phát hoặc trong năm trước tiên.

Các biện pháp tâm lý và tái khám định kỳ

Đối với thanh thiếu niên việc điều trị sẽ mang lại hiệu quả cao hơn khi phối hợp liệu pháp tâm lý và thuốc chống trầm cảm. Có thể cần phải nhập viện trong các thời đoạn cấp tính, đặc biệt khi xác định có ý tưởng và hành vi tự tử. Tác dụng ngoại ý do độc tính, có thể xảy ra khi dùng thuốc chống trầm cảm trong quá trình điều trị. Do đó, trẻ em và thanh thiếu niên uống các loại thuốc này phải được theo dõi chém đẹp. Các biện pháp song song dựa vào gia đình và nhà trường. Cần phải coi xét cẩn thận về bệnh sử và các xét nghiệm hạp để loại trừ các rối loạn khác (tỉ dụ như bệnh lây truyền, bệnh tuyến giáp, lạm dụng ma túy) có thể gây ra các triệu chứng na ná. trẻ nít và thanh thiếu niên nên được điều trị trong chí ít 1 năm sau khi các triệu chứng đã giảm dần và hết hẳn. hầu hết các chuyên gia khuyến cáo rằng con trẻ có trên 2 thời đoạn trầm cảm cần điều trị lâu dài. Cũng như ở người lớn, tái phát trầm cảm là phổ biến. vì thế việc trị liệu tâm lý và tái khám định kỳ theo kế hoạch điều trị của bác sĩ rất quan yếu.

PGS.TS. Cao Tiến Đức

0 nhận xét:

Đăng nhận xét